Có 43,8% học sinh dưới 14 tuổi đã uống rượu, bia

.

Sáng 9/11, thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trình bày trước Quốc hội Tờ trình về dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia.

Bố cục Luật gồm 7 chương và 38 điều, được xây dựng trên 6 quan điểm chỉ đạo.

Trong đó ưu tiên bảo vệ sức khỏe của mỗi người dân, gia đình và xã hội; giảm gánh nặng bệnh tật, tử vong do sử dụng rượu bia gây ra; phòng ngừa và giảm bớt các hậu quả về xã hội và gánh nặng kinh tế để khắc phục hậu quả do sử dụng rượu bia gây ra.

Về mức độ phổ biến của việc uống rượu, bia, báo cáo nêu, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ nam giới uống rượu, bia cao và tỷ lệ này ở các hai giới đang gia tăng.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến. Ảnh: Quochoi.vn

Đáng chú ý, theo thống kê năm 2013, có 43,8% học sinh từ lớp 8 đến lớp 12 đã uống cốc rượu/bia đầu tiên trước 14 tuổi và 22,5% đã uống đến mức say ít nhất 1 lần.

Trình bày báo cáo thẩm tra về dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh nhấn mạnh, về cơ bản, hồ sơ dự án Luật đáp ứng yêu cầu theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và nội dung dự án Luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Tuy nhiên, Ủy ban  đề nghị Chính phủ tiếp tục hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động chính sách về các phương diện xã hội, tài chính, nhân lực và thủ tục hành chính phát sinh trong dự thảo Luật.

Về một số vấn đề cụ thể, Ủy ban đồng tình với chính sách “tăng thuế tiêu thụ đặc biệt theo lộ trình để giảm mức tiêu thụ rượu, bia” (khoản 2 Điều 3) nhưng đề nghị cần quy định cụ thể, minh bạch nguyên tắc của lộ trình tăng thuế ngay trong Luật.

Đồng thời, đề nghị bổ sung chính sách “ưu tiên thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia đối với thanh niên, người chưa thành niên” và các quy định cụ thể hướng trực tiếp đến giới trẻ để ứng phó xu hướng trẻ hóa người sử dụng rượu bia, giảm thiểu những nguy cơ gây ra gánh nặng bệnh tật và hệ lụy xã hội do rượu, bia.

Ủy ban cũng thể hiện sự đồng tình với  quy định “cấm quảng cáo rượu, bia từ 15 độ cồn trở lên dưới mọi hình thức” (khoản 2 Điều 5).

Các hành vi bị nghiêm cấm khác của Điều 5 gồm: Sử dụng cồn công nghiệp; nguyên liệu, phụ gia không bảo đảm chất lượng, không được phép dùng trong thực phẩm để sản xuất, pha chế rượu, bia; kinh doanh rượu không có giấy phép; kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển rượu, bia giả, nhập lậu, không bảo đảm chất lượng; nhập lậu rượu, bia; ép buộc người dưới 18 tuổi sử dụng rượu, bia và cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật về tác dụng của rượu, bia đối với sức khỏe.

Ủy ban cũng đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, tham khảo thêm kinh nghiệm quốc tế để quy định phù hợp nhằm đảm bảo mọi hoạt động quảng cáo không được khuyến khích giới trẻ sử dụng rượu, bia dưới mọi hình thức.

Nghiên cứu bổ sung quy định về không thực hiện hoạt động quảng cáo rượu, bia trước, trong và sau các chương trình thể thao, văn hóa, sân khấu, điện ảnh dành cho trẻ em, học sinh, sinh viên tại điểm b khoản 1 Điều 11 bởi giới trẻ thường vẫn đến và lưu lại địa điểm tổ chức sự kiện trong thời gian trước và sau các chương trình này.

Về ý kiến cho rằng quy định kiểm soát chặt chẽ quảng cáo rượu, bia sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, quyền được tiếp cận thông tin về rượu, bia.

Tăng cường chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

"Ủy ban thấy rằng, những tác động bất lợi đến thu ngân sách nhà nước không so sánh được với chi phí mà ngân sách nhà nước và người dân phải bỏ ra cho việc điều trị bệnh và xử lý những vấn đề xã hội có liên quan đến rượu, bia.

Đồng thời, đánh giá cao việc Chính phủ đã quy định linh hoạt mức độ kiểm soát quảng cáo khác nhau đối với những sản phẩm rượu, bia có nồng độ cồn khác nhau”, bà Nguyễn Thuý Anh nêu.

Về kinh phí cho phòng, chống tác hại của rượu, bia, Ủy ban thấy rằng, nếu quy định kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành thì thực trạng kinh phí dành cho công tác này cơ bản sẽ không có gì thay đổi.

Do vậy, đề nghị Chính phủ nghiên cứu để quy định trong Luật nguồn kinh phí rõ ràng, mang tính định lượng, thể hiện tính minh bạch, công khai, sự quan tâm, quyết tâm của Nhà nước đối với công tác này.

Nguồn: giaoduc.net.vn